Vận Động Trị Liệu

TẬP LUYỆN THĂNG BẰNG

 

Nhiều yếu tố cần xem xét khi xác định chương trình can thiệp vận động để cải thiện khả năng thăng bằng. Hầu hết các chương trình can thiệp đều dùng tiếp cận đa hệ thống. Chẳng hạn với người nằm lâu do bệnh tật cần một chương trình bao gồm kéo giãn chân và thân để cải thiện tư thế và độ linh động; tập làm mạnh cơ để cải thiện hiệu suất cơ; và các hoạt động thăng bằng chức năng, động để cải thiện khả năng thực hiện các sinh hoạt hàng ngày một cách hiệu quả.

Do rèn luyện thăng bằng thường liên quan với các hoạt động thách thức giới hạn thăng bằng của bệnh nhân, nhà trị liệu cần thực hiện tuần tự các bước để đảm bảo an toàn. Bảng 1 liệt kê các phép đo an toàn cần phải xem xét và sử dụng để phòng ngừa khả năng ngã và tổn thương trong quá trình điều trị.

  1. Dùng đai lưng bất cứ khi nào bệnh nhân tập luyện hoặc thực hiện các hoạt động có thể gây mất thăng bằng.
  2. Đứng hơi lệch phía sau và bên cạnh bệnh nhân với một tay nắm đai lưng, một tay đỡ vai (không nắm tay bệnh nhân).
  3. Tập bên cạnh các thanh song song để bệnh nhân có thể nắm tay khi cần.
  4. Không tập gần vật sắc nhọn.
  5. Một người đứng trước và một người đứng sau khi bệnh nhân dễ ngã hoặc trong hoạt động có nguy cơ tổn thương cao.
  6. Kiểm tra trang thiết bị để đảm bảo sự hoạt động tốt.
  7. Bảo vệ bệnh nhân khi vào hoặc ra khỏi thiết bị (như băng tải hoặc xe đạp).
  8. Đảm bảo sàn tập sạch và không có mảnh vụn.

Bảng 1: An toàn trong quá trình rèn luyện thăng bằng.

Kiểm soát thăng bằng tĩnh

Hoạt động để khuyến khích kiểm soát thăng bằng tĩnh bao gồm duy trì tư thế ngồi, khuỵu gối, quỳ thẳng người và đứng trên bề mặt cứng. Hoạt động nhiều tính thách thức hơn bao gồm thực hành trên xe đạp hai người, đứng một chân (hình 1), tư thế lao về phía trước và ngồi xổm. Tăng tiến bài tập bằng cách thay mặt sàn cứng bằng mặt sàn mềm, thu hẹp nền đỡ, vận động tay hoặc nhắm mắt. Dùng trở kháng bằng vật nặng cổ tay hoặc dây kéo đàn hồi. Đề nghị bệnh nhân thực hiện thêm một nhiệm vụ để tăng độ khó, như bắt bóng hoặc tính nhẩm.

http://jcscwellness.org/images/balletbalance.jpg

Hình 1: Đứng một chân để kiểm soát thăng bằng tĩnh.

Kiểm soát thăng bằng động

Để tăng cưởng kiểm soát thăng bằng động, có thể dùng các can thiệp như sau:

  1. Bệnh nhân duy trì phân bố trọng lượng cân bằng, thân thẳng trên mặt sàn chuyển động, như ngồi trên bóng điều trị, hoặc đứng trên tấm lắc lư (hình 2).

http://www.ageless-beauty.com/images/balance-ball-workout.jpg

Hình 2: Thăng bằng khi ngồi hoặc nằm trên bóng.

  1. Tăng tiến hoạt động bằng cách thêm kiểu vận động, như cúi người, xoay thân hoặc cử động đầu và tay.
  2. Thay đổi tư thế tay bằng cách vươn qua đầu rồi hạ xuống.
  3. Tập đi, ban đầu với bước nhỏ rồi tăng dần cho đến khi đạt được bước chân bình thường.
  4. Tăng tiến chương trình vận động bằng nhảy dây, nhảy từ bậc thang xuống sàn…
  5. Bệnh nhân thực hiện vận động tay và chân trong lúc đứng thẳng bình thường và đứng một chân (hình 3).

Kiểm soát thăng bằng xảy ra trước

Để giúp bệnh nhân cải thiện khả năng kiểm soát thăng bằng xảy ra trước, có thể thực hiện các bài tập sau:

  1. Vươn theo mọi hướng để chạm hoặc nắm đồ vật, bắt bóng hoặc đá bóng.
  2. Dùng các tư thế khác nhau (như ngồi, đứng hoặc quỳ) và ném hoặc lăn bóng theo hướng và tốc độ khác nhau (hình 3).

http://www.acefitness.org/images/webcontent/certifiednews/BalanceExer3.jpg

Hình 3: Tăng tiến trong tập thăng bằng từ cố gắng đứng hai chân tới  đứng một chân và ném và bắt bóng qua đầu.

  1. Dùng các nhiệm vụ chức năng liên quan với nhiều bộ phận cơ thể để tăng sự thách thức đối với kiểm soát tư thế xảy ra trước, khi bệnh nhân nhấc đồ vật trọng lượng khác nhau, với tư thế và tốc độ khác nhau, cửa đóng và cửa mở với tay nắm và mức độ khó mở khác nhau hoặc thao tác trong một quy trình nhiều chướng ngại vật.

Kiểm soát thăng bằng phản ứng

Có thể rèn luyện khả năng thăng bằng phản ứng bằng các hoạt động sau đây:

  1. Tăng dần sự xoay khi tập cho bệnh nhân đứng theo các hướng khác nhau một cách liên tục trên bề mặt cứng cố định.
  2. Nhấn mạnh sự rèn luyện chiến lược mắt cá chân, khi bệnh nhân tập đứng một chân với thân thẳng.
  3. Nhấn mạnh sự rèn luyện chiến lược hông, khi bệnh nhân bước theo đường vẽ trên sàn; đứng một chân với thân cong; đứng trên bàn trượt…
  4. Nhấn mạnh sự rèn luyện chiến lược bước, khi bệnh nhân tập bước lên bục hoặc bước chéo chân về phía trước hoặc phía sau (kiểu bước của người mẫu thời trang).
  5. Tăng sự thách thức trong các hoạt động trên, thêm ngoại lực xảy ra trước và không xảy ra trước. Chẳng hạn để bệnh nhân nhấc đồ vật bề ngoài như nhau nhưng trọng lượng khác nhau; ném và bắt bóng với kích thước và trọng lượng khác nhau; hoặc tăng giảm tốc độ đột ngột khi bệnh nhân đứng trên băng tải.

Tổ chức cảm giác

Nhiều hoạt động trên có thể dùng để thay đổi đáp ứng đối với các cảm giác đặc hiệu.

  1. Để giảm hoặc làm mất tác dụng của tín hiệu thị giác, bệnh nhân cần nhắm mắt, mang thấu kính, hoặc cử động mắt và đầu khi rèn luyện sự thăng bằng.
  2. Để giảm đáp ứng với ám hiệu cảm giác bản thể, bệnh nhân có thể thu hẹp nền đỡ, đứng trên bọt biển hoặc đứng trên mặt nghiêng.

Thăng bằng trong các hoạt động chức năng

Nhà trị liệu phải tập trung vào các hoạt động tương tự các hạn chế chức năng của bệnh nhân. Cần thực hiện nhiều nhiệm vụ một lúc để tăng mức độ phức tạp của nhiệm vụ. Thực hành các hoạt động vui chơi và giải trí mà bệnh nhân ưa thích, chẳng hạn chơi bóng bàn hoặc đá bóng, để tăng động lực đối với chương trình can thiệp (hình 4).

http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/a/ae/Khayala_playing_table_tennis.jpg

Hình 4: Thực hiện hoạt động giải trí mà bệnh nhân ưa thích để tăng động lực.

An toàn khi đứng, di chuyển hoặc tập thăng bằng

Đây là vấn đề cốt yếu của một chương trình vận động trị liệu bất kỳ, nhất là vận động trị liệu tăng cường kiểm soát sự thăng bằng.

(Trích chương 12: Vận động trị liệu khôi phục sự thăng bằng, phần 2: Vận động trị liệu, sách Vật lý trị liệu: Nguyên lý và Thực hành, sắp xuất bản)

 

Bình luận

Nội dung: