Vận Động Trị Liệu

NGUYÊN LÝ CHUNG CỦA VẬN ĐỘNG TRỊ LIỆU

 

Như một trong nhiều quy trình can thiệp mà nhà vật lý trị liệu sử dụng để điều trị bệnh nhân hoặc chăm sóc khách hàng, vận động liệu pháp đóng vai trò nền tảng và nằm ở tâm điểm của một chương trình được thiết kế chuyên biệt để cải thiện hoặc khôi phục chức năng hoặc ngăn ngừa loạn chức năng của các đối tượng cần chăm sóc và chữa trị.

Định nghĩa vận động trị liệu

Vận động trị liệu là sự thực hiện các động tác vận động cơ thể, tư thế hoặc hoạt động thể chất có hệ thống và theo kế hoạch nhằm cung cấp cho bệnh nhân hoặc khách hàng những phương pháp để:

  1. Giảm nhẹ hoặc ngăn ngừa khiếm khuyết.
  2. Cải thiện, khôi phục hoặc tăng cường chức năng thể chất.
  3. Ngăn ngừa hoặc giảm thiểu nguy cơ đối với sức khỏe.
  4. Tối ưu hóa toàn trạng, sự sung sức hoặc cảm giác hạnh phúc.

Cần lưu ý tới một số thuật ngữ và khái niệm liên quan với vận động liệu pháp. Các chương trình vận động trị liệu do nhà vật lý trị liệu thiết kế cần có tính cá nhân để phù hợp  với nhu cầu đơn nhất của từng bệnh nhân hoặc khách hàng. Bệnh nhân là người bị khiếm khuyết, giảm mức độ hoạt động hoặc hạn chế sự tham dự, cần được nhà vật lý trị liệu điều trị và chăm sóc để cải thiện chức năng và phòng ngừa khiếm khuyết. Khách hàng là người không bị giảm chức năng nhưng muốn tham gia chương trình vật lý trị liệu để cải thiện sức khỏe và sự hạnh phúc và để ngăn ngừa sự giảm chức năng. Với tư cách một trang mạng về vật lý trị liệu, ở đây thuật ngữ “bệnh nhân” sẽ được dùng thay cho thuật ngữ “khách hàng” hoặc thuật ngữ “bệnh nhân/khách hàng”.

Khái niệm chức năng thể chất

Khả năng thực hiện chức năng độc lập tại nhà hoặc nơi làm việc, trong cộng đồng hoặc trong hoạt động vui chơi và giải trí phụ thuộc vào các trạng thái thể chất, tâm lý và xã hội. Các yếu tố đa chiều kích của chức năng thể chất bao gồm nhiều khía cạnh hoạt động chức năng có quan hệ tương hỗ với nhau. Chúng được đặc trưng nhờ các khái niệm như sau:

Sự thăng bằng: Khả năng kết nối các bộ phận cơ thể kháng với trọng lực để duy trì hoặc vận động cơ thể (trọng tâm) mà không bị ngã; khả năng vận động cơ thể cân bằng với trọng lực nhờ tương tác của các hệ cảm giác và vận động.

Sức bền tổng quát (sức bền tim phổi): Khả năng thực hiện các vận động lặp, cường độ thấp của toàn bộ cơ thể (như đi bộ, chạy, đạp xe hoặc bơi) trong một thời gian dài.

Sự điều hòa (điều hợp): Thời gian và trình tự phóng lực cơ chính xác kết hợp với sức cơ thích hợp, dẫn tới sự khởi phát, hướng dẫn và nâng bậc vận động hiệu quả. Nó là cơ sở để vận động mượt mà, hiệu quả và chính xác; và xuất hiện ở mức ý thức hoặc tự động.

Độ mềm dẻo: Khả năng vận động tự do, không trở ngại; được dùng tương tự với khái niệm độ linh động.

Độ linh động: Khả năng các cấu trúc hoặc bộ phận cơ thể vận động tích cực hoặc thụ động nhằm cho phép xuất hiện tầm vận động đối với các hoạt động chức năng (tầm vận động chức năng). Độ linh động thụ động phụ thuộc vào độ kéo giãn mô mềm (co và không co); trong lúc độ linh động tích cực đòi hỏi thêm sự hoạt hóa thần kinh cơ.

Hiệu suất cơ (sự thực hiện của cơ): Khả năng tạo trương lực và thực hiện công vật lý của cơ. Hiệu suất cơ bao gồm các khía cạnh sức mạnh, công suất và sức bền.

Kiểm soát vận động: Tương tác của hệ cảm giác và hệ vận động cho phép cơ chủ vận, đồng vận và đối vận, cũng như cơ cố định và cơ trung gian thực hiện hoặc đáp ứng với các thông tin cảm thụ bản thể và vận động, và tiếp theo, thực hiện công đúng trình tự để tạo ra các vận động có điều hợp.

Kiểm soát tư thế, cố định tư thế và cân bằng: Dùng tương tự như các khái niệm thăng bằng tĩnh và động.

Sự cố định hoặc vững chắc: Khả năng hệ thần kinh cơ, qua hoạt động cơ đồng bộ, giữ được các bộ phận cơ thể xa hoặc gần ở vị trí cố định hoặc điều khiển phần lõi cố định trong một vận động phức tạp. Sự vững chắc của khớp là khả năng duy trì sự kết nối xương hợp lý của khớp nhờ các thành phần thụ động và tích cực.

Các hệ thống cơ thể kiểm soát các yếu tố trên sẽ phản ứng, thích nghi và phát triển thích ứng với lực và áp lực vật lý (lực trên một đơn vị diện tích) tác động lên mô tạo nên các hệ thống đó. Chẳng hạn trọng lực là loại lực tác động thường trực lên hệ cơ xương khớp, hệ thần kinh cơ và hệ tuần hoàn. Các lực khác, xuất hiện trong các hoạt động thể chất thường quy, giúp cơ thể duy trì mức độ chức năng về sức mạnh, sức bền tim phổi và độ linh động (định luật Wolff, 1892). Lực và áp lực vật lý quá lớn có thể gây tổn thương cấp tính, như bong gân và gãy xương, hoặc mạn tính, chẳng hạn rối loạn do bị đè ép kéo dài. Tuy nhiên thiếu lực hoặc áp lực cần thiết cũng gây thoái hóa hoặc biến dạng (nguyên lý Arndt - Schultz). Chẳng hạn, thiếu áp lực do trạng thái phi trọng lực (phi công vũ trụ) hoặc bất động (do gãy xương hoặc bất hoạt về mặt thần kinh) sẽ làm teo yếu cơ và thoái hóa các cấu trúc xương khớp. Bất hoạt kéo dài cũng làm suy giảm hiệu suất của hệ tim phổi.

Khiếm khuyết tại bất cứ một hoặc nhiều hệ chức năng nào cũng dẫn tới giảm khả năng hoạt động và hạn chế sự tham dự. Vận động liệu pháp sử dụng lực và áp lực vật lý được lựa chọn cẩn thận trên các hệ thống bị khiếm khuyết một cách an toàn, tăng tiến và có kiểm soát nhằm giảm nhẹ khiếm khuyết thể chất, cải thiện chức năng, tăng cường khả năng hoạt động và sự tham dự của bệnh nhân.

Các loại hình vận động trị liệu

Các quy trình can thiệp bằng vận động bao gồm nhiều hoạt động, thao tác và kỹ thuật khác nhau. Các dạng vận động trị liệu được thống kê trong bảng dưới đây. Với bệnh nhân thần kinh cơ hoặc rối loạn phát triển, có thể có thêm một số loại hình can thiệp khác.

  1. Vận động tăng sức bền tổng quát (điều kiện hóa ưa khí)
  2. Vận động tăng hiệu suất cơ: tập tăng sức mạnh, công suất và sức bền
  3. Vận động tăng độ linh động: tập theo tầm vận động, kéo giãn*
  4. Vận động cải thiện kiểm soát và điều hòa thần kinh cơ
  5. Vận động kiểm soát tư thế, cơ học cơ thể và sự cố định
  6. Vận động rèn luyện thăng bằng và sự nhanh nhẹn
  7. Vận động thư giãn
  8. Tập thở và tập cơ hô hấp
  9. Vận động chức năng

* Một số tác giả xem di động khớp thuộc nhóm can thiệp này

Các loại hình vận động

An toàn trong vận động trị liệu

Trong bất cứ loại hình vận động nào, sự an toàn của bệnh nhân cũng là yếu tố cần xem xét đầu tiên. Ngoài ra cũng cần khảo sát sự an toàn đối với nhà trị liệu, nhất là khi họ tham gia trực tiếp vào quy trình vận động hoặc trong các trị liệu bằng tay (chẳng hạn kéo giãn thụ động hoặc tập theo tầm vận động có trợ giúp).

Nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng tới sự an toàn của bệnh nhân trong tập luyện. Trước khi tập, tiền sử và hiện trạng sức khỏe của bệnh nhân cần được xem xét cẩn thận. Bệnh nhân không thích ứng với can thiệp có thể bị tai biến do tác dụng ngoại ý của vận động đối với các bệnh đã hoặc chưa được chẩn đoán. Thuốc mà bệnh nhân đã hoặc đang dùng cũng có thể ảnh hưởng tới sự thăng bằng và điều hợp; hoặc tới đáp ứng đối với vận động của hệ tim phổi. Do đó mọi nguy cơ cần được nhận chân và đánh giá cẩn thận trước khi tiến hành can thiệp.

Môi trường luyện tập cũng ảnh hưởng tới sự an toàn. Diện tích phòng tập và mặt sàn luyện tập là những yếu tố cần khảo sát. Nếu dùng trang thiết bị, chúng cần được bảo dưỡng tốt, hoạt động ổn định, phù hợp với bệnh nhân và được sử dụng một cách hợp lý (hình).

Đối với các bài tập, tính chính xác trong thao tác của bệnh nhân cũng ảnh hưởng tới sự an toàn, bao gồm tư thế đúng, thực hiện chính xác từng động tác với cường độ, tốc độ và thời gian thích hợp. Khi cần thiết, cần tiến hành xác định độ dung nạp của bệnh nhân đối với một chương trình vận động cụ thể, nhất là với các bài tập tăng hiệu suất cơ và tăng sức bền tổng quát.

(Trích chương 7: Nguyên lý chung của vận động trị liệu, phần 2: Vận động trị liệu, sách Vật lý trị liệu: Nguyên lý và Thực hành, sắp xuất bản)

 

Bình luận

Nội dung: