Đau

KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU TRỊ ĐAU BẰNG  HÓA TRỊ LIỆU VÀ VẬT LÝ TRỊ LIỆU

 

Có rất nhiều phương pháp để kiểm soát và điều trị đau. Tuy nhiên chúng có thể được phân loại theo năm nhóm chính: (1) hóa trị liệu; (2) ngoại khoa và các kỹ thuật can thiệp; (3) vật lý trị liệu - phục hồi chức năng; (4) tâm lý trị liệu; và (5) y học thay thế và bổ sung. Dưới đây là khái quát về cơ chế của hóa trị liệu và vật lý trị liệu (hình 1).

Hình 1: Đau cần được tiếp cận đa chuyên khoa.

Hóa trị liệu

Hóa trị liệu rất quan trọng trong điều trị đau và có mặt trong hầu hết các chương trình kiểm soát đau. Có nhiều loại thuốc giảm đau với cơ chế, hiệu quả và tác dụng phụ khác nhau, cũng như với các con đường thâm nhập cơ thể khác nhau.

Như đã trình bày trong các bài viết về cơ chế đau, đau có thể do viêm hoặc do bất thường thần kinh, do đó thuốc giảm đau cũng được chia thành hai nhóm: nhóm điều trị đau do viêm và nhóm điều trị đau thần kinh.

Thuốc điều trị  đau do viêm

Đau do viêm liên quan với sự hoạt hóa thụ thể đau ngoại biên và dẫn truyền tín hiệu đau về tủy gai và lên não bộ (hình 2). Do đó thuốc có thể điều biến đau tại bốn vùng: tổ chức ngoại biên, thần kinh ngoại biên, sừng sau tủy gai và trên tủy gai (bảng 1).

Hình 2: Đau do viêm.

Vị trí tác động

Đau do viêm

Đau thần kinh

Tổ chức ngoại biên

* Kháng viêm không steroid

* Steroid

* Thuốc tê

* Thuốc gây nghiện

* Capsaicin

* Đồng vận a2

* Thuốc tê

Thần kinh

ngoại biên

* Thuốc tê

* Thuốc tê

* Chống co giật

* Ức chế tái hấp thu noradrenaline

Sừng sau

tủy gai

* Thuốc gây nghiện

* Kháng viêm không steroid

* Đồng vận a2

* Thuốc tê

* Đối kháng NMDA

* Thuốc tê

* Chống trầm cảm ba vòng

* Thuốc gây nghiện

* Đối kháng NMDA

Trên tủy gai

* Thuốc gây nghiện

* Paracetamol

* Chống trầm cảm ba vòng

* Thuốc tê

* Chống trầm cảm ba vòng

* Thuốc gây nghiện

* Đối kháng NMDA

Bảng 1: Thuốc điều trị đau do viêm và đau thần kinh.

Vật lý trị liệu

Các phương pháp vật lý trị liệu có thể giảm đau qua nhiều cơ chế khác nhau. Một chương trình điều trị đau hiệu quả phải tích hợp nhiều phương pháp với nhau nhằm khuyến khích mọi năng lực giảm đau nội tại của người bệnh. Dưới đây là cơ chế giảm đau tổng quát của các phương pháp vật lý trị liệu cơ bản:

  1. Giảm phản ứng viêm ngoại biên (lạnh; laser công suất thấp; kích thích điện).
  2. Khuyến khích quá trình sửa chữa và tái sinh, do đó góp phần giải quyết nguyên nhân nền tảng của đau (vận động; laser công suất thấp; vi dòng; nhiệt; siêu âm xung; sóng ngắn và vi sóng; xoa bóp; thủy trị liệu).
  3. Kích thích sợi hướng tâm đường kính lớn (TENS kinh điển; vận động; nhiệt và lạnh; xoa bóp; di động và kéo nắn).
  4. Giảm tốc độ của sợi dẫn xung động đau (lạnh, siêu âm).
  5. Kích thích giải phóng b-endorphin và các morphine nội sinh khác qua tác dụng kéo dài trên sợi hướng tâm đường kính nhỏ (TENS kiểu châm cứu; vận động; xoa bóp sâu; day bấm huyệt hoặc điểm trigger; laser châm cứu).
  6. Kích hoạt các con đường ức chế đi xuống qua cơ chế “đau ức chế đau” hoặc các cơ chế khác (TENS mạnh, TENS kinh điển và TENS kiểu châm cứu; vận động; xoa bóp sâu; di động và kéo nắn; nhiệt cao và lạnh sâu).
  7. Tác dụng gián tiếp qua giảm co thắt và cứng cơ, giảm thiếu máu cục bộ, do đó giảm kích thích thụ thể đau (vận động; kích thích điện; nhiệt và lạnh; trị liệu bằng tay).
  8. Tác dụng lên trạng thái cảm xúc, giảm lo âu và căng thẳng, nên có thể giảm đau trên các chiều kích cảm xúc và nhận thức (tất cả các phương pháp, nhất là vận động trị liệu).

(Trích chương 2: Đau - Cơ chế, đánh giá, kiểm soát và điều trị, phần 1: Một số quan niệm cơ bản, sách Điện trị liệu: Nguyên lý - Thiết bị - Thực hành, NXB Đại học Quốc gia TPHCM, 2012)

Các bài viết cùng chuyên mục

Bình luận

Nội dung: