Đau

ĐỊNH NGHĨA ĐAU

 

Đau là nguyên nhân phổ biến nhất khiến người bệnh tìm đến các cơ sở điều trị và phục hồi. Số liệu của Hội đau Mỹ và Hội nghiên cứu đau quốc tế cho thấy, hơn 80% bệnh nhân tìm đến cơ sở y tế vì đau. Nhiều bệnh nhân khiếm khuyết thần kinh hoặc vận động cũng thường bị đau; trong đó phần lớn xem kiểm soát đau là mục tiêu điều trị căn bản. Đau gia tăng khiếm khuyết thực thể, hạn chế khả năng lao động, sinh hoạt và giải trí, do đó ảnh hưởng nghiêm trọng tới chất lượng sống.

Một mặt đau là kinh nghiệm chủ quan rất khó đánh giá bằng các tiêu chí khách quan. Điều đó gây nhiều khó khăn cho quá trình chẩn đoán đau. Mặt khác, trên thực tế đau vẫn được điều trị khá thường xuyên bằng những loại thuốc đã được dùng từ hàng ngàn năm (như morphine) hoặc hàng trăm năm (như aspirin), chứng tỏ y học vẫn chưa tìm được cách chống đau thực sự an toàn và hiệu quả. Vậy đau là gì?

Năm 1968, McCaffery định nghĩa, đau là “bất cứ cái gì mà người đang đau nói, bất cứ khi nào mà người đó nói”. Định nghĩa này nhấn mạnh, đau là kinh nghiệm chủ quan không thể đo đếm bằng các thước đo khách quan. Nó cũng nhấn mạnh rằng, bệnh nhân, chứ không phải nhà điều trị, mới có “tư cách pháp nhân” về đau và bản tự đánh giá của người bệnh là chỉ dẫn đáng tin cậy nhất về trạng thái đau.

Đau là một trạng thái đa chiều kích

Năm 1979, Hội nghiên cứu đau quốc tế định nghĩa, đau là “trải nghiệm cảm giác và cảm xúc khó chịu liên quan với tổn thương mô hiện hữu hoặc tiềm tàng, hoặc được mô tả như một tổn thương như vậy”. Định nghĩa này lưu ý, đau là một kinh nghiệm phức tạp và đa chiều kích. Nói cách khác, đau không chỉ là sự hoạt hoá các thụ thể đau, mà còn là những trải nghiệm về cảm giác, cảm xúc, nhận thức và sự thay đổi hành vi liên quan với sự hoạt hoá đó. Đau thường được dùng để cảnh báo cơ thể trước sự tổn thương, nên có chức năng sinh tồn cơ bản, dù có thể gây nhiều khó chịu.

Khi mô bị tổn thương, thông tin được truyền về hệ thần kinh trung ương và được giải đoán là đau. Hiện chưa rõ thông tin đó được giải đoán như thế nào. Ngoài ra, có thể thấy đau khi không có kích thích (chẳng hạn đau chi ma), cũng như có kích thích mà thấy không đau (như trong một số nghi lễ tôn giáo). Theo ngôn ngữ kinh điển, đau bao gồm bốn quá trình:

  • Biến đổi: biến năng lượng của kích thích nhiệt, cơ hoặc hóa học gây đau thành điện năng của xung thần kinh.
  • Dẫn truyền: truyền tín hiệu thần kinh từ vị trí biến đổi (ngoại biên) về tủy gai và não bộ.
  • Cảm nhận: giải đoán tín hiệu tới các trung khu thần kinh cao cấp là đau.
  • Điều biến: tín hiệu ức chế hoặc kích thích từ não đi xuống để tác động (điều biến) sự dẫn truyền đau tại sừng sau tủy gai.

Chi tiết về các quá trình đó sẽ được trình bày trong bài Cơ chế đau.

(Trích chương 2: Đau - Cơ chế, đánh giá, kiểm soát và điều trị, phần 1: Một số quan niệm cơ bản, sách Điện trị liệu: Nguyên lý - Thiết bị - Thực hành, NXB Đại học Quốc gia TPHCM, 2012)

Bình luận

Nội dung: