Vận Động Trị Liệu

ĐẶC ĐIỂM, PHÂN LOẠI VÀ TÁC DỤNG CỦA KÉO GIÃN

 

Như một can thiệp điều trị để duy trì và tăng độ linh động, nhiều yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả kéo giãn. Chúng bao gồm: tư thế và sự cố định của cơ thể khi khéo giãn; cường độ, thời gian, tốc độ, tần suất và phương pháp kéo giãn; và sự tích hợp kỹ thuật tạo thuận hoặc ức chế cảm thụ bản thể thần kinh cơ và hoạt động chức năng vào chương trình kéo giãn (bảng 1).

  1. Tư thế: tư thế chi hoặc thân thích hợp để lực kéo hướng tới nhóm cơ cần thiết.
  2. Sự cố định: cố định một đầu cơ khi lực kéo giãn tác động lên đầu khác.
  3. Cường độ: biên độ lực kéo giãn.
  4. Thời gian: khoảng thời gian lực tác dụng trong một chu trình kéo giãn.
  5. Tốc độ: tốc độ sử dụng lực kéo ban đầu.
  6. Tần suất: số lần kéo giãn trong một ngày hoặc một tuần.
  7. Phương pháp: cách thức lực kéo giãn được dùng (tĩnh, giật, theo chu trình); mức độ tham gia của bệnh nhân (thụ động, có trợ giúp, tích cực); hoặc nguồn gốc lực kéo (bằng tay, cơ học, tự kéo).

Bảng 1: Các yếu tố ảnh hưởng tới tác dụng của kéo giãn.

Có bốn phạm trù kéo giãn tổng quát: kéo giãn duy trì, kéo giãn theo chu trình, kéo giãn giật và kéo giãn dựa trên nguyên lý tạo thuận cảm thụ bản thể thần kinh cơ. Mỗi tiếp cận lại có thể thực hiện theo các phương cách khác nhau: bằng tay hoặc bằng máy, thụ động hoặc tích cực; nhờ nhà trị liệu hoặc bệnh nhân tự thực hiện. Chúng được trình bày trong bảng 2.

  1. Kéo giãn duy trì.
  2. Kéo giãn theo chu trình/cách hồi.
  3. Kéo giãn giật.
  4. Kéo giãn theo nguyên lý tạo thuận cảm thụ bản thể thần kinh cơ.
  5. Kéo giãn bằng tay
  6. Kéo giãn cơ học.
  7. Tự kéo giãn.
  8. Kéo giãn thụ động.
  9. Kéo giãn tích cực.

Bảng 2: Các phương pháp kéo giãn.

Tư thế và cách cố định

Tư thế thích hợp và sự cố định hiệu quả không chỉ quan trọng trong thử cơ hoặc đo tầm vận động, mà còn có vai trò thiết yếu trong các trị liệu vận động, trong đó có kéo giãn (hình 1).

Hình 1: Tư thế là yếu tố quan trọng trong kéo giãn.

Tư thế

Bệnh nhân cần có tư thế thích hợp để có thể cảm thấy dễ chịu và ổn định trong quá trình kéo giãn. Tư thế ảnh hưởng tới áp lực đặt lên mô mềm, do đó ảnh hưởng tới tầm vận động khả dĩ của khớp. Cần nhấn mạnh rằng, cần xem xét tư thế không chỉ của cơ và khớp được kéo giãn, mà cả thân và khớp xung quanh. Chẳng hạn khi bệnh nhân tự kéo giãn để tăng gập vai, thân phải thẳng đứng chứ không được cúi về phía trước (hình 2).

Hình 2: (A) Tư thế đúng khi kéo giãn để tăng gập vai: cột sống cổ và lưng thẳng đứng; B) Tư thế sai: đầu cúi và lưng cong.

Cố định

Để kéo giãn hiệu quả một cơ hoặc một nhóm cơ và các cấu trúc quanh khớp liên quan, cần cố định tốt vùng bám gần hoặc xa của các đơn vị gân cơ cần kéo dài. Với kéo giãn bằng tay, nhà trị liệu thường cố định điểm bám gốc chi và vận động phần ngọn chi (hình 3).

Hình 3: Khi kéo giãn để tăng gập gối, vùng bám gốc chi (xương đùi và chậu) của

cơ tứ đầu đùi được cố định, trong lúc vận động phần ngọn chi.

Với tự kéo giãn, vật cố định, như ghế hoặc mặt sàn, hoặc sự co cơ chủ động của bệnh nhân sẽ đóng vai trò cố định trong lúc đoạn chi thể khác vận động. Khi tự kéo giãn, đầu xa của chi thường cố định trong lúc đầu gần thực hiện sự vận động (hình 4).

Hình 4: Khi tự kéo giãn, cố định đầu xa trong lúc vận động đầu gần của chi.

Cường độ kéo giãn

Biên độ lực kéo giãn là tải đặt lên mô mềm để kéo dài nó. Nói chung có sự đồng thuận về tham số điều trị này: kéo giãn cần được thực hiện với cường độ hoặc tải nhỏ. So với lực kéo giãn lớn, cường độ nhỏ giúp bệnh nhân cảm thấy dễ chịu và giảm thiểu sự cứng cơ bảo vệ chủ ý hoặc không chủ ý.

Kéo giãn cường độ thấp, thời gian dài có tốc độ cải thiện tầm vận động tốt mà không gây sự quá tải hoặc tổn thương cho vùng tổ chức đã bị yếu do bất động. Nó cũng giúp kéo dài mô liên kết đậm đặc của vùng co rút mạn tính tốt hơn, ít phá hủy và gây nhức mỏi cơ sau vận động hơn so với kéo giãn cường độ cao.

Thời gian kéo giãn

Một trong những tham số điều trị quan trọng nhất quyết định sự thành công là thời gian kéo giãn. Đó là khoảng thời gian mà lực kéo tác dụng và cơ bị co ngắn được giữ ở trạng thái kéo giãn. Nó thường được xác định bằng thời gian của một chu trình kéo giãn. Nếu có nhiều chu trình, thời gian tổng cộng của các chu trình cũng được xem là một khía cạnh của thời gian kéo giãn.

Nguyên tắc chung là thời gian một chu trình càng nhỏ thì số chu trình trong một buổi kéo giãn càng lớn, để thời gian tổng cộng đạt mức tối ưu. Tuy nhiên chưa có sự đồng thuận về các yếu tố này trong các tài liệu đã công bố (bảng 3).

  1. Có mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa cường độ và thời gian, cường độ và tần suất kéo giãn.
  • Cường độ thấp hơn tương ứng với thời gian bệnh nhân dung nạp can thiệp, cũng như mô mềm được kéo dài, lâu hơn.
  • Cường độ cao hơn  đòi hỏi tần suất kéo giãn ít hơn để có thời gian lành tổ chức và giảm nhức mỏi cơ tích lũy sau can thiệp.
  1. Kéo giãn dài với tải nhỏ được xem là an toàn và hiệu quả để  tạo ra biến dạng đàn hồi và thay đổi độ mềm dẻo mô mềm.
  2. Kéo giãn bằng tay và tự kéo giãn với người giảm động nhưng khỏe mạnh, và kéo giãn cơ học duy trì với bệnh nhân co rút mạn có tác dụng tăng tầm vận động rõ rệt nhất.
  3. Với người cao tuổi, các chu trình kéo giãn gân hố khoeo 15, 30 và 60 giây với bốn lần lặp đều tăng tầm vận động; tuy nhiên chu trình 60 giây cho kết quả tốt nhất.
  4. Với người bình thường và với trung niên:
  • Kéo giãn chi dưới 15, 30, 45, 60 giây hoặc 2 phút đều tăng tầm vận động rõ rệt.
  • Các chu trình 30 và 60 giây cho gân khoeo một lần hàng ngày đều hiệu quả hơn chu trình 15 giây, nhưng không khác nhau khi so sánh với nhau.
  •  Hai lần lặp kéo giãn duy trì gân khoeo 30 giây hàng ngày cải thiện độ mềm dẻo tương tự sáu lần lặp các chu trình 10 giây hàng ngày.
  • Kéo giãn duy trì cơ khép háng 15 giây hoặc 2 phút tăng tầm vận động giống nhau.
  • Dường như không có tác dụng bổ sung khi kéo giãn dài hơn 60 giây.
  • Ba chu trình 30 giây hoặc 1 phút không tăng tầm vận động nhiều hơn một chu trình.
  1. Khi thời gian tổng cộng như nhau, kéo giãn theo chu trình (cách hồi) có hiệu quả tương đương và dường như dễ chịu hơn so với kéo giãn duy trì.
  2. Với bệnh nhân co rút do xơ hóa mạn tính:
  • Kéo giãn bằng tay hoặc tự kéo giãn dường như ít hiệu quả.
  • Kéo giãn duy trì bằng treo và nẹp có kết quả tốt hơn.
  1. Tần suất kéo giãn tối thiểu là hai lần hàng tuần với người khỏe mạnh bị giảm động, nhưng với bệnh nhân nên kéo giãn hàng ngày để tăng tầm vận động.
  2. Mặc dù sự tăng tầm vận động sau kéo giãn có thể duy trì một vài tuần tới một tháng sau liệu trình điều trị, sự cải thiện vững chắc chỉ xuất hiện khi bệnh nhân sử dụng tầm vận động mới tăng được trong các hoạt động chức năng hoặc kiên trì thực hành kéo giãn.

Bảng 3: Cường độ, thời gian, tần suất và phương pháp kéo giãn.

Cần phân biệt giữa kéo giãn dài và kéo giãn ngắn. Các thuật ngữ như tĩnh, duy trì và kéo dài được dùng để mô tả kéo giãn dài; còn các thuật ngữ chu trình, cách hồi hoặc giật được dùng để mô tả kéo giãn ngắn. Tuy nhiên chưa có giá trị thời gian cụ thể cho từng loại kéo giãn đó.

Kéo giãn tĩnh                                                                                 

Kéo giãn tĩnh là thuật ngữ thường được dùng để chỉ loại kéo giãn với thời gian tác dụng lực kéo dài. Với kéo giãn bằng tay và tự kéo giãn, thời gian kéo thường từ 5 giây tới 5 phút. Với kéo giãn cơ học, thời gian kéo có thể từ một giờ tới hàng tuần lễ.

Kéo giãn tĩnh được xem là kỹ thuật hiệu quả để tăng độ mềm dẻo; nó cũng được xem là an toàn hơn kéo giãn giật, do chỉ tạo ra áp lực trong cơ bằng một nửa so với kéo giãn giật.

Kéo giãn tĩnh tăng tiến

Trong loại hình này, lực kéo hoặc tư thế chi (với dụng cụ kéo chi) được thay đổi mỗi khi đạt được sự cải thiện trong tầm vận động. Điều đó cho phép tầm vận động tăng một cách tăng tiến. Cả kéo bằng tay, tự kéo giãn hoặc kéo cơ học đều dùng quy trình can thiệp này.

Kéo giãn cách hồi

Kiểu kéo giãn với thời gian tương đối ngắn và lực kéo tác dụng theo chu trình được gọi là kéo giãn cách hồi hoặc kéo giãn theo chu trình. Nó dùng nhiều chu trình kéo trong một lần can thiệp. Đặc trưng của nó là lực kéo cuối tầm được sử dụng với tốc độ chậm và cường độ tương đối nhỏ, nên hoàn toàn khác với kéo giãn giật (tốc độ và cường độ lực kéo cao). Thời gian của mỗi chu trình trong kéo giãn cách hồi thường từ 5 tới 10 giây; tuy nhiên một số người cho rằng, đó là thời gian quá dài. Số chu trình tối ưu cho một lần điều trị cũng chưa được xác định.

Tốc độ kéo giãn

Tầm quan trọng của kéo giãn tốc độ chậm

Để cơ thư giãn tốt và ngừa tổn thương mô, tốc độ kéo giãn cần đủ chậm. Lực kéo cần tăng và giảm dần. Lực kéo chậm dường như ít làm tăng áp lực trên mô liên kết hoặc ít hoạt hóa phản xạ gân xương và tăng trương lực tại các cấu trúc khả co của cơ được kéo giãn.

Kéo giãn giật

Kéo giãn cách hồi, tốc độ nhanh và cường độ mạnh, thường được gọi là kéo giãn giật. Mặc dù có thể cải thiện độ linh động tương đương kéo giãn tĩnh, kỹ thuật này được xem là dễ gây chấn thương và nhức mỏi cơ hơn.

Mặc dù an toàn với người trẻ khỏe trong các chương trình điều kiện hóa, không nên dùng kỹ thuật cho người già và bệnh nhân cơ xương khớp hoặc co rút mạn tính.

Kéo giãn nhanh trong chương trình điều kiện hóa và hồi phục nâng cao

Mặc dù gây tranh cãi, một số nhà thực hành dùng kỹ thuật kéo giãn nhanh cho một số đối tượng được lựa chọn cẩn thận, như vận động viên thể dục dụng cụ hoặc bệnh nhân trẻ và năng động trong giai đoạn phục hồi cuối cùng muốn có các hoạt động giải trí mạnh mẽ. Nó thường được dùng trước các bài tập tăng tốc độ (tập plyometric) hoặc các chương trình tập luyện chuyên sâu.

Tần suất kéo giãn

Tần suất kéo giãn là số lần kéo giãn hàng ngày hoặc hàng tuần. Nó phụ thuộc vào nguyên nhân giảm động, chất lượng và mức độ lành tổ chức, độ mạn tính và mức độ co rút, tuổi tác, sử dụng corticoid, và tiền sử đáp ứng với kéo giãn của bệnh nhân. Tần suất kéo giãn thường dao động trong khoảng 2 - 5 lần một tuần để cơ thể có thời gian lành tổ chức và giảm thiểu sự nhức mỏi do vận động.

Phương pháp kéo giãn

Kỹ thuật kéo giãn bao gồm nhưng không bị giới hạn trong các phương pháp sau: kéo giãn bằng tay, kéo giãn bằng máy hoặc tự kéo giãn, cũng như kéo giãn thụ động, có trợ giúp hoặc tích cực. Trong bất cứ phương pháp nào, cơ bị co ngắn cần được thư giãn tối đa và mô liên kết bị hạn chế cần ở tư thế dễ kéo nhất. Thêm nữa, trước khi kéo giãn, cần dùng các bài tập tích cực cường độ thấp hoặc các tác nhân nhiệt để làm nóng vùng can thiệp.

Kéo giãn bằng tay

Khi kéo giãn bằng tay, nhà trị liệu hoặc người chăm sóc dùng ngoại lực để vận động phần chi thể vượt qua điểm kháng tận của mô và tầm vận động khả dĩ của khớp một chút. Nhà trị liệu dùng tay để kiểm soát sự cố định cũng như hướng, tốc độ, cường độ và thời gian kéo giãn. Cũng như các bài tập theo tầm vận động, kéo giãn bằng tay có thể được thực hiện theo cách thụ động, có trợ giúp hoặc hoàn toàn do bệnh nhân (tức tự kéo giãn bằng tay).

Kéo giãn bằng tay thường được dùng theo cách cuối tầm, tĩnh và tăng tiến về cường độ, với thời gian từ 15 tới 60 giây, số lần lặp từ 3 tới 5 chu trình cho một lần, và từ 1 tới 3 lần một ngày (và từ 2 tới 5 ngày một tuần). So với kéo giãn cơ học, kéo giãn bằng tay có thể xem là kỹ thuật cường độ cao, thời gian ngắn.

Cần lưu ý tới một số đặc trưng sau khi tiến hành kéo giãn bằng tay:

  1. Kéo giãn bằng tay rất thích hợp trong giai đoạn kéo giãn đầu tiên, khi nhà trị liệu cần xác định sự dung nạp của bệnh nhân đối với lực kéo và thời gian kéo khác nhau và khi sự cố định tối ưu là yếu tố quyết định.
  2. Kéo giãn bằng tay thụ động (do nhà trị liệu thực hiện) là lựa chọn ưu tiên khi bệnh nhân không thể tự kéo giãn do mất kiểm soát thần kinh cơ phần chi thể cần điều trị.
  3. Nếu bệnh nhân kiểm soát được đoạn chi thể cần can thiệp, nên yêu cầu bệnh nhân trợ giúp bằng tay, nhất là khi bệnh nhân hiểu nhưng khó giãn cơ.
  4. Dùng tư thế tay và quy trình như tự tập theo tầm vận động, bệnh nhân có thể kéo dài cơ và mô mềm quanh khớp một cách độc lập. Đó là kỹ thuật tự kéo giãn.

Tự kéo giãn

Tự kéo giãn (cũng được gọi là tập mềm dẻo hoặc kéo giãn tích cực) là phương pháp kéo giãn được bệnh nhân thực hiện độc lập sau khi được nhà trị liệu hướng dẫn. Kỹ thuật này thường được tích hợp vào chương trình luyện tập tại nhà để kiểm soát lâu dài nhiều bệnh cơ xương khớp và thần kinh cơ. Kéo giãn tĩnh với thời gian từ 30 tới 60 giây được xem là an toàn và hiệu quả nhất với loại hình can thiệp này.

Kéo giãn cơ học

Có nhiều cách dùng dụng cụ hoặc thiết bị cơ học để kéo giãn mô bị co và tăng tầm vận động. Thiết bị có thể đơn giản như vật nặng cổ tay hoặc hệ thống ròng rọc, hoặc phức tạp như dụng cụ hỗ trợ có thể điều chỉnh hoặc thiết bị kéo giãn tự động. Chúng cung cấp tải hằng định với tư thế thay đổi hoặc tư thế cố định với tải thay đổi.

Kéo giãn cơ học dùng lực kéo rất nhỏ trong một thời gian đủ dài để tạo ra sự kéo dài mô có tính vĩnh cửu, do tác dụng tạo biến dạng dẻo tại mô bệnh lý. Các kỹ thuật sau thường được sử dụng trong thực hành:

  1. Tải gắn ở cổ tay bệnh nhân nhỏ, chỉ khoảng một vài ki-lô-gam.
  2. Thiết bị điều chỉnh khớp tích cực cho phép bệnh nhân điều chỉnh tải khi kéo giãn.
  3. Với các dụng cụ khác, tải hằng định được đặt trước lên nẹp.

Thời gian kéo giãn cơ học thường dài hơn kéo bằng tay hoặc tự kéo, thường từ 15 tới 30 phút, thậm chí tới 8 - 10 giờ một lần hoặc liên tục cả ngày trừ lúc sinh hoạt riêng hoặc khi vận động tích cực.

Kỹ thuật kéo giãn tạo thuận cảm thụ bản thể thần kinh cơ:

Các kỹ thuật tạo thuận cảm thụ bản thể thần kinh cơ dùng trong kéo giãn được gọi là kéo giãn tích cực hoặc kéo giãn tạo thuận. Chúng tích hợp sự co cơ tích cực vào các động tác kéo giãn để tạo thuận hoặc ức chế sự hoạt hóa cơ và làm tăng khả năng cơ bị kéo dài vẫn thư giãn như khi nó được kéo giãn. Điều đó xuất phát từ giả định rằng, khi các sợi cơ bị ức chế phản xạ qua ức chế tự sinh hoặc ức chế tương hỗ, các thành phần khả co của cơ ít kháng với kéo giãn hơn. Tuy nhiên các kỹ thuật ức chế được thiết kế chỉ để kéo dài các cấu trúc khả co của cơ, chứ không phải mô liên kết trong và quanh cơ bị co ngắn.

Cần nhấn mạnh rằng kéo giãn tạo thuận cảm thụ bản thể thần kinh cơ đòi hỏi sự phân bố thần kinh bình thường và khả năng kiểm soát chủ động cơ bị co ngắn hoặc cơ ở phía đối diện của khớp. Do đó nó không hiệu quả với bệnh nhân liệt hoặc co thắt do tổn thương và bệnh thần kinh cơ. Và do hướng tới các thành tố khả co của cơ, chứ không phải mô liên kết không co, nó thích hợp với các trường hợp mà sự co thắt cơ gây hạn chế vận động và ít hiệu quả với co rút xơ hóa. Đồng thời tuy được dùng trong lâm sàng từ lâu, nhưng cũng chưa có nghiên cứu so sánh hiệu quả của nó với các kỹ thuật kéo giãn khác. Có ba loại kéo giãn tạo thuận, bao gồm: kỹ thuật giữ - thả hoặc co - giãn; kỹ thuật co đồng vận; và kỹ thuật giữ - thả kèm với co đồng vận. Chi tiết về tạo thuận cảm thụ bản thể thần kinh cơ sẽ được trình bày trong bài khác.

(Trích chương 8: Vận động trị liệu duy trì và khôi phục độ linh động, phần 2: Vận động trị liệu, sách Vật lý trị liệu: Nguyên lý và Thực hành, sắp xuất bản)

Bình luận

Nội dung:


tuan      [email protected]

01/01/1970 07:33:34

hay